Bài kinh Bảy Thứ Lửa – Sư Giác Nguyên giảng

Thời gian đọc: 35 Phút

Hôm nay chúng ta học bài bài kinh Bảy Thứ Lửa. Chúng ta biết rồi, lửa mà một trong những nhu cầu thiết yếu hàng đầu trong đời sống của trái đất. Có điều, đã nói đến lửa thì mình phải nói đến mặt tích cực và tiêu cực của nó. Những mặt tích cực đó là lửa làm nguồn sáng, là nguồn năng lượng. Lửa giúp nấu chín thức ăn, lửa sưởi ấm, lửa soi sáng. Và đương nhiên nói tới lửa cũng là nói đến những trận hỏa hoạn, những tai nạn từ lửa.Đức Phật dạy rằng trong thế giới này có những thứ mà cũng có thể gọi là lửa. Tức là có cái là lửa ở khía cạnh tiêu cực và có cái là lửa ở khía cạnh tích cựcLửa ở khía cạnh tiêu cực chỉ cho cái gì có tác hại chứ không nói đến tác dụng của nó. Ở đây Ngài dạy phiền não tham, sân, si là những thứ lửa chỉ có tác hại chứ không phải tác dụng. Các thứ lửa còn lại có tác dụng, có lợi ích, có ý nghĩa, nhưng nếu không khéo thì nó có thêm cả khía cạnh tiêu cực, tức tác hại.Ở khía cạnh tiêu cực có hai trường hợp:- Bản thân nó trước sau chỉ có tác hại mà thôi.- Chỉ bị xem là tác hại khi mình không tận dụng nó một cách đúng mức, đúng cách. Như vậy cũng gọi là tác hại.“Này các Tỷ-kheo, có bảy loại lửa này. Thế nào là bảy?

Lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa những vị đáng cung kính, lửa gia chủ, lửa các vị đáng cúng dường, lửa củi.” (‘Sattime, bhikkhave, aggī. Katame satta? Rāgaggi, dosaggi, mohaggi, āhuneyyaggi, gahapataggi, dakkhiṇeyyaggi, kaṭṭhaggi – ime kho, bhikkhave, satta aggī’’ti. Tatiyaṃ.)

1. Lửa tham (rāgaggi): the fire of lustTham sân si cũng được gọi là lửa, nhưng chỉ tác hại mà thôi. Biết bao nhiêu vấn đề của thế giới này được khởi đi từ lòng tham của chúng sanh. Vì tham mà chuyện ác nào mình cũng làm. Đã nói chuyện ác thì nó hại mình hại người. Bản thân cái tham vừa hại mình vừa hại người. Không có cái tham nào có lợi cho mình hết.Ví dụ mình nói mình gầy dựng sự nghiệp bằng bàn tay nỗ lực của mình, bằng đầu óc của mình, rồi mình kiếm ra tiền bạc, mình hưởng thụ sung sướng thì tội lỗi chỗ nào? Nói theo cái nhìn của thế giới thì tôi kiếm tiền, kiếm danh, kiếm lợi bằng mồ hôi nước mắt của tôi thì đâu có tội, miễn là trong lúc kiếm tiền và trong lúc xài tiền tôi không làm gì phạm pháp hết. Nhưng nói theo tinh thần rốt ráo của nhà Phật thì khi mình sống trong hành động bằng tâm tham thì trước mắt mình đối diện với rất là nhiều vấn đề.-Khi mình hành động [bằng tâm tham] thì lúc đó trí tuệ vắng mặt. Mình muốn có lợi, vì lòng tham mà mình làm ăn buôn bán, nhưng hãy cẩn thận với lòng tham đó, vì nó không có sự can thiệp của trí tuệ, không có sự can thiệp của từ tâm, không có sự can thiệp của của các đức lành, cứ miễn sao có tiền thôi, bất chấp hậu quả. Còn khi mình kiếm tiền trong sự cẩn trọng thì khi đó không có tâm tham, mà có sự can thiệp bởi các đức lành. Hãy nhớ tách bạch rạch ròi vấn đề ở chỗ đó.Dầu kiếm sống lương thiện nhưng vẫn còn bằng tâm tham thì hãy cẩn trọng, vì lúc nào tham có mặt thì lúc đó mình không có cẩn trọng, chuyện gì cũng làm. Sở dĩ mình biết chọn lọc thì lúc đó cái chọn lọc đó không phải là tâm tham mà là trí tuệ, là từ bi. Mình không vì lợi nhuận mà bất chấp hậu quả, bất chấp tác hại trên người khác.- Khi mình sống bằng tâm tham thì có một hệ quả chắc chắn, đó là khi anh không được như ý thì anh khổ hơn người bình thường. Ví dụ vì trách nhiệm mình phải đi làm để nuôi thân, nuôi gia đình, vợ con, cha mẹ, nếu chỉ thuần túy trách nhiệm thì sự lỗ lã mất mát của mình không đau cho bằng sống thuần túy bằng tâm tham. Người cứ cắm đầu vục mặt trong đồng tiền thì có chuyện gì sẽ khổ lắm. Còn như mình kiếm kế sinh nhai trong tinh thần trách nhiệm thì có chuyện gì cũng đỡ khổ hơn người sống bằng tâm tham. Đó là chuyện ngoài đời.Còn trong đạo, nội dung của chánh pháp là ly dục tôn, cho nên ngay từ buổi đầu khoác áo cạo tóc, người tu phải tâm niệm tu là để buông chớ không phải để được cái gì. Tu là để mình buông, kể cả những cái mình cho rằng cao siêu, thánh thiện thiêng liêng như thiền định đạo quả chẳng hạn. Nếu nói rốt ráo, cái chính yếu của người tu là không nên nhắm đến cái chuyện thành tựu những thứ đó. Mà chuyện căn bản của người tu là nhắm đến chuyện lìa bỏ phiền não, lìa bỏ phàm phu của mình.Tu mà thiết tha cầu đắc cái này chứng cái kia, đó là chuyện xa vời lắm. Bởi chuyện đầu tiên của tu hành là để thoát khổ. Để giữ mình trước nhân và quả. Giữ mình trước cái nhân là giữ mình để không tiếp tục sống trong phiền não, không để bị khổ vì cái nhân. Giữ mình trước cái quả là giữ được cái tâm để có thể bình thản trước những thử thách của cuộc đời, trước những cay đắng của đời sống. Dầu hoàn cảnh gì trái ý bất toại, đắng cay máu lệ, mình vẫn có thể bình tâm chịu đựng được.Cho nên, ngay buổi đầu tu là phải đặt vấn đề là chuyện đầu tiên phải thấy phiền não còn là còn khổ. Những đắng cay còn là còn khổ. Nhưng chắc chắn đắng cay thì không thể tránh được rồi, bởi đó là nghiệp cũ của quá khứ mà. Nghiệp cũ thì không thể tránh được. Không tránh được bằng cách dẹp bỏ nó, nhưng có thể tránh được bằng cách mình vẫn tiếp tục an lạc, bình tâm khi chuyện bất toại xảy đến. Đó là tu trong cái quả. Khi gặp đắng cay thì không vì vậy mà đau khổ, và khi gặp ngọt ngào thì cũng không vì vậy mà đau khổ.Như vậy rõ ràng tu là nhắm đến sự lìa bỏ. Lìa bỏ sự bất mãn trong cái đắng và lìa bỏ sự ham hố trong cái ngọt. Còn chuyện đắc chứng đạo quả niết-bàn, tôi nói thiệt, nó xa vời lắm. Tôi không biết mặt mũi đạo quả ra làm sao, niết-bàn ra làm sao. Cho nên tôi nói ngàn lần, tu hành mà với cái mục đích lìa bỏ cái phàm của mình mới là chắc ăn. Bởi vì tu mà cầu đắc thánh thì có nhiều cái nguy hiểm lắm. Bởi vì thứ nhất là nó xa vời lắm. Thứ hai, mình không biết mặt mũi thánh ra làm sao. Tu mà hướng tới cái không biết thì nguy lắm. Bữa nào thấy cái gì ngộ ngộ, cái nào lạ lạ chưa từng thấy qua là bắt đầu hiểu lầm, hiểu sai, tưởng là mình đắc. Trong khi tu để lìa bỏ cái phàm thì chắc ăn hơn. Vì sao, vì mình đã biết mặt mũi cái phàm ra làm sao. Tu để không còn là phàm nữa chắc ăn hơn tu để thành thánh. Phàm là gì? Phàm là phiền não, là bất mãn trước cái đắng, là đam mê trước cái ngọt. Tu là để bỏ cái phàm đó đó, nó quá cụ thể. Tại saoi phải bỏ? vì hai cái thứ đó (đam mê, bất mãn) làm mình khổ tan nát. Chính vì muốn trốn khổ nên mình mới tu tập Tứ Niệm Xứ. Mới cần đến giới, định, tuệ.Chuyện đắc thánh thì đừng lo, khi anh không còn là phàm nữa thì tự nhiên anh thành thánh. Tôi xin hứa vụ này. Cho nên chuyện tu hành phải là hướng đến lý tưởng ly dục ly tham là chỗ đó. Hễ còn có bất mãn trong cái đắng thì còn cái lòng đi tìm cái ngọt. Nhưng hễ còn có lòng tiếp tục đi tìm cái ngọt thì còn đau khổ khi gặp cái đắng. Bài giảng này đặc biệt đáng để quí vị xăm lên mình: Hễ còn đam mê trong cái ngọt thì sẽ còn khổ trước cái đắng. Khi còn biết đau khổ trước cái đắng thì sẽ còn có ý đi tìm cái ngọt. Khi còn có ý đi tìm cái ngọt thì sẽ chắc chắn sẽ vô cùng đau khổ khi gặp cái đắng. Khi còn cái lòng ghét sợ cái đắng lại sẽ còn có ý đi tìm cái ngọt. Cứ như vậy.Cho nên chuyện đầu tiên của người tu là buông ra. Ngay cả trong lý tưởng tu hành cũng không phải để đắc chứng cái gì hết. Xa quá. Bản thân tôi và tôi nghĩ nhiều người trong room cũng vậy, đang nhức răng quá, sưng cái miệng thì lúc đó cái chuyện quan trọng nhất mình nghĩ tới là chuyện hết nhức răng chứ không nghĩ đến chuyện hàm răng đẹp. Tôi không biết có ai mà rảnh đến mức nghĩ đến chuyện hàm răng đẹp. Tôi chỉ biết khi nhức răng lên tới óc thì người ta chỉ mong hết đau hết nhức, thậm chí là nhổ liệng. Chứ giờ đó mà còn nghĩ đến cái răng đẹp thì tôi nghĩ người này cũng hơi lạ đó.Cho nên khi mình thấy cái hiện hữu này còn là gánh nặng, là nỗi khổ niềm đau thì mục đích trước mắt và duy nhất, ưu tiên hàng đầu là lìa bỏ sự hiện hữu, lìa bỏ tâm phàm phu. Vì nó làm cho mình khổ. Nếu không hiểu được điều nãy giờ tôi nói, thì đó là mình đang bị đốt cháy bởi ngọn lửa đầu tiên, đó chính là ngọn lửa tham ái.Cứ nhớ như con nít vậy đó, ngày nào còn thích cái này, thích cái kia thì dứt khoát mình sẽ còn bị khổ dài dài, bởi vì, thích không được là khổ, đi kiếm tìm cái thích là khổ, kiếm được rồi phải gìn giữ nó là khổ. Giữ không được cái mình thích là khổ. Thích là khổ như vậy đó, đó là nói về mặt nổi. Còn nói về mặt chìm, cứ mỗi cái thích là nó đã tạo ra một cái tâm đầu thai đi về đâu đó. Rồi quí vị hỏi tôi đi đâu hở Sư. Dạ khó nói lắm. Đi đâu là do tâm đầu thai nó dẫn đi. Nhưng ở chỗ đó mình sống ra sao thì do thiện ác mình đã tạo thường ngày đây nè. Ví dụ như tôi làm phước, tôi cúng dường, tôi tụng kinh, tôi thuyết pháp là lúc đó tôi đang tạo ra tâm đầu thai về cõi lành. Mai mốt tôi được làm người, ví dụ như vậy. Nhưng chuyện tôi làm người tôi được cái gì thì tính tiếp. Ví dụ như bây giờ tôi thuyết pháp, mai mốt tôi sanh ra tôi được trí tuệ hơn người. Nhưng như vậy đã đủ chưa? Chưa! Sanh ra mà tôi bệnh quặt quẹo. Từ nhỏ đã nằm trong bệnh viện. Ba tuổi đã tiểu đường, bốn tuổi phải thở bằng máy rồi. Như vậy đâu có đủ. Tôi tiếp tục hành hạ chúng sanh khác thì tôi tiếp tục bệnh hoạn và yểu thọ. Tôi quên không bố thí, tôi không thích chia sẻ với ai, đời sau sanh ra tôi khổ sở, nghèo xơ xác, cái khó bó cái khôn. Đừng tưởng chỉ học đạo hành thiền là đủ. Mỗi công đức chỉ là một khía cạnh của đời sống mà thôi. Cơ hội để mình làm một thứ công đức đã khó rồi nói chi là mọi công đức cần thiết cho đời sống của mình thì càng hiếm nữa. Cơ hội để nghe pháp, để thuyết pháp, để phục vụ, để giữ giới, để ngồi thiền, để tìm hiểu giáo lý, để đắc thiền, đắc thông thì càng hiếm nữa. Cho nên hãy nhớ, lửa tham độc như vậy đó. Hễ còn tham thì còn đi đầu thai, còn đi đầu thai thì còn luân hồi, còn chuyện luân hồi ở chỗ sướng hay khổ chỉ có trời biết. Chắc chắn là khổ nhiều rồi bởi một ngày mình sống toàn tâm xấu không mà. Tham thì hiển hiện qua 6 ngã: tham trong những gì mình thấy, tham trong những gì mình nghe, ngửi, nếm, sờ chạm và suy tư. Như vậy thì một ngày biết bao nhiêu cơ hội để mình sống trong tâm tham. Mà đối với người không tu hành thì cơ hội xảy ra tâm tham có ít nhất là hai cái: (1) trước cái ngọt ngào mình thưởng thức, đón nhận, đó là tham (sống trong tham); (2) trước cái cay đắng mình nghĩ đến cái ngọt ngào lại cũng là tham (nghĩ về tham). Hễ còn sống bằng tâm tham thì còn khổ trùng trùng. Đây là lý do vì sao Đức Phật dạy tham là lửa. Tham ít ít thì như lửa sem sém đã khổ rồi. Còn sống thuần túy trong tham thì giống như mình đứng hẳn trong lửa, đã cỡ nào. Mức độ bỏng tùy thuộc mình tiếp xúc lửa ở mức độ nào. Tâm tham cũng vậy. Mình bị nó làm khổ, bị nó đốt nóng ở mức độ nào tùy chuyện mình sống với nó bao nhiêu.

2. Lửa sân. (dosaggi)Lửa sân gắn liền với lửa tham. Thích càng nhiều thì bất mãn càng nhiều. Đó là cái luật tự nhiên. Không ai áp đặt kiến tạo cho mình hết. Bất mãn chính là tâm sân, gồm có: giận hờn, ganh tị, tiếc của, sợ hãi, ghen tuông, tị hiềm, hối hận. Trong A-tỳ-đàm nói sân gồm sân, tật, lận, hối. Tất cả đều khởi đi từ tâm tham. Do có thích mới có sân, do có đam mê mới có bất mãn, hai cái này nuôi nhau. Cho nên nếu mình còn có Dục ái (đam mê trong năm trần vật chất) thì chắc chắn mình còn tâm Sân. Đắc A-na-hàm rồi không còn đam mê trong Dục ái nữa cho nên cũng không còn tâm Sân. Đây là cái luật của vũ trụ.Tại sao Sân được gọi là lửa? Cái ghen tuông, cái ganh tị đủ để làm mình ăn không ngon, ngủ không yên. Quí vị có bao giờ sống trong cơn ghen chưa? Không muốn người khác được gì là ganh tị. Ghen tuông là không muốn chia sẻ tình cảm nam nữ cho người khác. Chỉ riêng cái ghen tuông ganh tị đã làm cho mình lên máu, trụy tim. Sợ hãi cũng như vậy. Ghen tuông, sợ hãi, căm giận, oán thù cũng làm cho mình không ăn không ngủ được. Đó chính là lửa chứ còn gì nữa. Ai từng bị sống trong tâm thái đó thì sẽ hiểu tại sao Phật dạy sân là lửa.Tham là lửa, khi cái Tham mà vật mình thì khủng khiếp lắm. Muốn là Tham, khi muốn không được thì chuyển qua Sân. Khổ lắm. Thương người ta mà không dám nói, hay người ta không đồng ý, khổ lắm. Muốn món đồ đó quá mà không được, thích cái nhà, thích miếng đất, thích chiếc xe đó quá mà không được, khổ lắm.Tham với Sân là một cặp, thích và ghét là một cặp. Cứ nhớ chừng Sân gắn liền với Tham. Thích càng nhiều thì Sân càng nhiều. Đam mê càng nhiều thì bất mãn càng nhiều. Vì vậy Sân được gọi là lửa là vậy đó. Muốn tàn phá, muốn xóa sổ đối tượng là Sân. Chịu không nổi với tình cảnh, tình trạng, sự kiện đang diễn ra, bất toại, là Sân. Vì vậy Đức Phật dạy Sân là lửa.

3. Lửa si (mohaggi)Si là lửa vì Si là gốc của Tham, gốc của Sân. Ở đâu có Tham thì biết ở đó có Si. Ở đâu có Sân thì có Si núp lùm ở đó, nó làm nền tảng gián tiếp thôi. Nói theo A-tỳ-đàm thì Si thuộc về thọ xả, Sân thuộc về thọ ưu. Mình sẽ hỏi, ủa sao nó núp được? Nó làm nền thôi, làm nền một cách gián tiếp. Chính vì nền tảng không hiểu được Bốn Đế cho nên mình mới thích cái này cái kia. Đây là lý do tại sao Si được xem là nền của Tham và Sân. Vì nó là nền của Tham và Sân (chính là lửa) nên Si cũng là lửa. Đó là nói chung.Nói chi tiết, Si gồm 2: Si phóng dật và Si hoài nghi. Hai cái này là lửa bởi vì:Si phóng dật làm cho mình không tập trung. Từ chỗ phóng dật không tập trung nên mình không có Niệm, không có Định. Người sống thất niệm, sống không có định thì tâm sẽ bồn chồn, ray rứt lắm. Và phóng dật là cái nền cho Tham và Sân. Tham và Sân chỉ xuất hiện với sự hỗ trợ của phóng dật. Chứ Định có mặt, Niệm có mặt thì phóng dật làm sao chen vô được. Nếu có Định, có Niệm thì làm sao có Tham có Sân được. Cho nên phóng dật là lửa, bởi nó là nền cho hai lửa kia.Hoài nghi là sự hoang mang trong Bốn Đế – kể cả những người chưa học giáo lý thì họ vẫn có cái hoang mang trong Bốn Đế. Dù họ không biết Bốn Đế là gì nhưng cái hoang mang của họ trong đời sống chính là cái hoang mang trong Bốn Đế. Ví dụ tôi không biết chữ, tôi chỉ biết nói chứ không biết viết, biết đọc, nhưng dầu không biết chữ tôi vẫn có cái dòng chảy màu đỏ trong người tôi là máu, vẫn có cái màu đen trên đầu là tóc, vẫn có những sinh tố trong cơ thể. Chỉ là tôi không biết thôi chứ nó vẫn có chứ. Người nào có học thì mới biết phân tích đây là máu, gồm bao nhiêu thành phần hóa chất v.v… Dầu tôi dốt cỡ nào, tôi không biết gì hết nhưng tôi vẫn có máu, có thịt chứ. Ở đây cũng vậy, chúng ta chưa có học về Bốn Đế nhưng những hoang mang của chúng ta vẫn là hoang mang trong Bốn Đế dù chúng ta không biết Bốn Đế là gì hết.Hoang mang trong Bốn Đế có nghĩa là mù mịt, không biết mình ở đâu mình tới. Không biết cấu tạo của thân tâm này là gì. Không biết vì đâu mà mình sinh tử luân hồi. Với kiểu sống này của mình thì thiện ác mình không biết, mai này tắt thở đi về đâu mình cũng không biết. Ý nghĩa rốt ráo của đời sống này mình cũng không biết. Tất cả những cái không biết này nằm gọn trong cái vô minh trong Bốn Đế. Dù mình dốt cỡ nào, không biết Bốn Đế là gì, nhưng vấn đề của mình vẫn là vấn đề vô minh trong Bốn Đế, giống như ví dụ hồi nãy, tôi không biết chữ, không biết những vấn đề y học, dược học, nhưng những vấn đề trên cơ thể của tôi lại là những vấn đề được các bác sĩ, các nhà khoa học nhắc nhở mỗi ngày trong phòng mạch, trong phòng lab.Hoài nghi là những hoang mang về bản thân, về thế giới, trên nền tảng của cái gọi là vô minh trong Bốn Đế. Nói như vậy có nghĩa là khi mình sống không có được trí tuệ thì khổ vô vàn. Cái khổ đó được gọi là do Si mà có. Tại sao tôi thích, tại sao tôi ghét? Vì do tôi không hiểu được Bốn Đế, hoặc hiểu lờ mờ, hiểu mơ màng theo kiểu vẹt, két, nhồng, sáo, cưỡng, cho nên kiểu đối diện của tôi kém lắm. Đêm hôm qua tôi có coi một cái clip – mà tôi kể ví dụ này hoàn toàn không có ý báng bổ gì đâu nghen — Đức Giáo Hoàng Francis trong lúc làm thánh lễ ở quảng trường St. Peter ở Vatican, ngài đang vui vẻ đi giữa biển người toàn là những giáo dân rất mực dấu yêu, có một cô đó (có lẽ là ba Tàu, cái mặt rất giống Tàu, cộng thêm cái kiểu hành xử có lẽ là China thôi), không biết cổ quá hâm mộ ngài hay muốn bày tỏ sự bất mãn nào đó không biết, mình không biết cổ nói cái gì mà thò tay chụp lấy tay ngài kéo về phía cổ một cách thô bạo, bất kính và phạm thượng. Dầu gì ngài cũng là vị chủ chăn lãnh đạo tinh thần cho hàng tỷ người trên thế giới. Mà đừng nói chủ chăn hay là gì hết, chỉ cần người ta là một người trưởng thành đang đi giữa một đám đông với sự tôn nghiêm lịch sự mà mình chồm người qua dãy rào ngăn cách để chụp cái tay người ta kéo về phía mình thì rất là thiếu lịch sự. Đức Giáo Hoàng đang đi rất lịch sự, tôn nghiêm, đĩnh đạc, tự nhiên thò tay chụp ngài kéo về phía mình rồi xổ một tràng. Ngài trang bị tâm lý chưa kịp, nên ngài lấy tay đánh mạnh vào tay của cổ với vẻ mặt rất là giận dữ. Đối với rồi là rất giận dữ. Đương nhiên sau đó, trong tư cách của vị chủ chăn, trên các phương tiện truyền thông từ Vatican ngài gởi lời xin lỗi là đã thiếu kiên nhẫn, thiếu kiềm chế trong khoảnh khắc đó. Nhưng mình phải nhìn nhận rằng với một một người có trí tuệ chánh niệm thường trực sẽ không có một phản ứng hơi khó ngờ như vậy. Chuyện cô kia thiếu văn hóa, thiếu lịch sự thiếu suy nghĩ là chuyện của cổ. Nhưng chuyện lớn là chuyện của ngài. Một vị thánh, vị A-la-hán, một hành giả chuyện tu miên mật thường trực sống trong chánh niệm thì không như vậy. Có thể chỉ một chút thôi, như giật mình thì có. Nhưng để cho sự thiếu tự chủ đi xa hơn nữa đó là do sự thiếu hàm dưỡng.Si là lửa là như vậy đó. Do thiếu hiểu biết mới dẫn đến hành động làm phiền người khác, làm cho người khác cũng nổi lửa. May là an ninh của Vatican họ hiền, chứ nếu lúc đó không phải là Đức Giáo Hoàng mà là Tổng thống Mỹ, và nếu chuyện đó xảy ra trên đất Mỹ là cô đó bị mật vụ hốt rồi. Đó là nhẹ, chức còn ở những xứ như Trung Quốc mà đối xử kiểu đó với Tập Cận Bình, hay nhẹ hơn là Lý Khắc Cường thì trong vòng ba nốt nhạc mình đã không thấy cổ. Họ sẽ đem cổ vô trong, nghiên cứu “vì đâu đã xúc phạm làm nhục một vị lãnh đạo, diện mạo của đất nước như vậy.” “Đây là ý đồ phản động, có sự tiếp tay của các thế lực quốc tế…” Họ xé ra một hồi là cô này đem bắn 15 lần chưa hết tội. Đó là lửa chứ còn gì nữa. Mình đốt mình, đốt người. Mình đốt cái người mình tấn công mà sau đó mình cũng bị cháy luôn. Sống trong phiền não là đương nhiên bị đốt, trước khi mình bị đốt mình đã đốt người ta trước.Tham, sân, si là ba thứ lửa chỉ có tác hại chứ không có tác dụng.

4. Lửa thánh hiền (dakkhiṇeyyaggi)Lửa thánh hiền (dakkhiṇeyya) chỉ cho tăng bảo.Các bậc hiền thánh ở đời tại sao họ được gọi là hiền thánh?Bao nhiêu người thiên hạ cứ thích cái này ghét cái kia, bất mãn đủ thứ, dễ dàng bị cám dỗ; vì cái thích đó mà chuyện nào cũng làm, chuyện ác nào cũng có thể nói, có thể nghĩ; vì cái ghét mà chuyện gì cũng dám làm, chuyện gì cũng dám nói, chuyện gì cũng dám nghĩ. Bên cạnh cái biển người như vậy, lâu lâu lại xuất hiện một nhân vật không tham không sân không si hoặc chí ít cũng giảm tham, giảm sân, giảm si thì đương nhiên họ là đối tượng đáng kính. Sự đáng kính này không phải là khơi khơi, là ý tưởng mơ hồ, trừu tượng mà đáng kính là vì – theo nghĩa đen – sự có mặt của người đó ở đời đã đem lại niềm an lạc cho nhiều người. Sự có mặt của người đó là niềm an ủi, là sự trấn an cho bao nhiêu người. Sự lễ bái cúng dường đối tượng như vậy đem lại an lạc cho người thực hiện, cho nên hiền thánh là ngọn lửa sưởi ấm và soi sáng cho chúng sanh.Tuy nhiên, đã nói là lửa mà, cho nên nếu anh bất cẩn thiếu cảnh giác thì anh bị phỏng như chơi, nhất là ngọn lửa đó có nhiệt lượng cao như lửa hàn xì, lửa bếp gas. Nếu những ngọn lửa có nhiệt lượng cao như vậy mà mình bất cẩn thì phỏng nặng. Thánh hiền cũng vậy, nếu mình tôn trọng lễ bái, cúng dường quý kính thì công đức vô lượng. Nhưng nếu mình có lòng chà đạp, báng bổ, bất kính thì quả ác đương nhiên là nặng. Đây là cái luật của vũ trụ. Tung trái banh vô vách lá cái sức dội khác với tung trái banh vô vách tường. Một người không tham không sân không si hoặc giảm tham giảm sân giảm si mà mình xúc phạm họ thì dĩ nhiên tội nặng. Cho nên đó là lửa, lửa này có hai mặt, mặt tiêu cực và tích cực. Mình xúc phạm họ thì tội nặng tày đình, còn nếu mình có lòng thương kính quý mến họ thì công đức không sao kể xiết. Cho nên đây được gọi là lửa thánh hiền.

5. Lửa gia đình (gahapataggi)Bài kinh này và bài kinh tiếp theo đều có Sớ giải. Sớ giải của hai bài kinh cộng lại giải thích đầy đủ nghĩa của chữ Lửa gia chủ (lửa gia đình).Sớ giải nói như sau: sống chung với nhau dưới một mái nhà, người này phải biết nghĩ đến người kia, phải cư xử phải phép. Một người vợ biết điều dễ thương mà một người chồng ba trợn thì quí vị nghĩ xem đó có phải là một sự kết hợp tật nguyền sớm muộn gì cũng nảy sinh vấn đề hay không. Hoặc người chồng ok ngon lành mà bà vợ không ra gì, hoặc một người chủ ngon lành mà người làm không ra gì, hoặc người tớ rất ngon lành mà chủ không ra gì, anh tốt mà em không ra gì… nói chung là trong nhà chỉ cần có một người không ra gì thì nhà đó sẽ bị cháy tan nhà nát cửa. Một người chồng quần quật mà vợ ở nhà không giữ tròn trách nhiệm bổn phận hoặc người vợ tuyệt vời mà người chồng không ra gì, hay từng thành viên trong gia đình dưới một mái nhà mà có hành xử bất xứng thì sẽ dẫn đến họa lớn trong căn nhà đó. Do đó mới có loại lửa gia chủ này. Nhiều người trong room đang nghe cái chỗ này, nhìn kỹ ngẫm lại, nhiều khi có thể nhà mình cũng đang cháy… Tôi có nghe nhiều chuyện tang thương, nghe mà hết muốn luân hồi. Tôi sợ chuyện gia đình quá, làm thân đàn bà thì ngán quá, làm thân trai phải có vợ có con cũng ngán. Tôi nghe Phật tử (cả nam lẫn nữ) kể mà tôi nản:- Sư biết không, con đi làm về. Lái xe về gần tới nhà mà con không biết có nên ghé vô không. Cuối cùng con chạy ngang luôn. Trời chiều rồi, mưa lất phất, có khi tuyết rơi mà con không biết phải đi đâu, về đâu. Con không muốn bước vô mái nhà đó. Không ai bạo hành đánh đập gì hết, nhưng cái không khí kỳ lắm. Một là ghẻ lạnh. Hai là bề bộn. Người lớn bệnh hoạn lép giường nằm đó, trẻ nhỏ thì khóc gào.Đi làm về chạy gần tới nhà mà không muốn ghé. Cứ đi hoài, chạy vòng vòng vài tua rồi mới về nhà. Mà về tới nhà ngừng xe lại mà không bước xuống. Nghĩa là trong nhà có vấn đề gì đó mà làm cho đương sự cay đắng xót xa. Đó là lửa gia chủ. Chỉ cần có một hành xử bất xứng là chúng ta đã gieo lửa cho nhau, nhẹ nhẹ là làm hiu hắt đời nhau, nặng nặng là đốt cháy, làm tàn rụi đời nhau.

6. Lửa cha mẹ (āhuneyyaggi)Trong kinh nói thế giới này vận hành theo các chu kỳ.- Thời kỳ chúng sanh sống ác nhiều hơn thiện.- Thời kỳ chúng sanh thiện ác bằng nhau- Thời kỳ chúng sanh thiện nhiều hơn ácKhi thiện nhiều hơn ác rồi thì thế giới đi tuột xuống, và cuối cùng là ác nhiều hơn thiện. Rồi lên lại thiện ác bằng nhau, rồi lên đến thiện nhiều hơn ác, đó là đỉnh. Từ đỉnh đó lại xuống thiện ác bằng nhau, rồi xuống đáy là ác nhiều hơn thiện.Thời kỳ thiện nhiều hơn ác là thời kỳ Chuyển Luân Thánh Vương ra đời (Chuyển Luân Thánh Vương là những vị do phước nhiều, nôm na giống như vua Thuấn, vua Nghiêu, lấy đức độ cảm hóa muôn dân), thời kỳ có các vị Chánh Đẳng Giác, Độc Giác ra đời, thời điểm có các vị đạo sĩ đắc thiền.Giai đoạn thiện nhiều hơn ác qua đi thì đến giai đoạn thiện ác bằng nhau. Rồi xuống đến giai đoạn ác nhiều hơn thiện. Giai đoạn này chúng sanh chỉ sống trong bóng tối, không có khái niệm thiện ác gì hết. Cứ thích là làm.Trong kinh nói thế này, dầu là thế giới có vận hành ở giai đoạn nào đi nữa, nếu lúc có thánh hiền ra đời thì con người mới biết thánh hiền là gì, lúc đó họ mới biết tôn trọng người tu hành, kẻ có đức hạnh. Nhưng sẽ có lúc ác nhiều hơn thiện thì người ta không còn tôn trọng những giá trị đó nữa. Lúc này người ta đánh giá nhau theo những thứ gì đó như sức mạnh, tiền bạc, nhan sắc, tiếng tăm v.v… chứ còn chuyện đạo hạnh, đạo đức được coi như rác. Người lành người thiện, kẻ có khả năng chia sẻ kiến thức miễn phí cho người khác được coi là ba trợn. Người là phải khôn, làm cái gì cũng phải quy ra hiện vật hiện kim. Con người không còn khái niệm thiện ác. Ai hy sinh, vị tha sẽ được xem là ngu. Đại khái như vậy.Như vậy giá trị của thánh hiền, những giá trị tâm linh, tinh thần chỉ được ghi nhận vào thời điểm con người có thiện, (giai đoạn thiện nhiều hơn hay thiện bằng ác). Đó là nói về giá trị được thiên hạ nhìn nhận. Còn người có giá trị đó thì cực hiếm chỉ có ở những thời điểm đặc biệt nào đó thôi.Riêng tình cha nghĩa mẹ thì thời nào cũng vậy thôi quí vị!Dầu cho thế giới này có một ngày sống như bầy thú thì lúc đó mẹ vẫn thương con, cha vẫn thương con, bởi con thú cũng vậy mà. Quí vị có thấy cảnh gấu mẹ cõng gấu con băng qua suối, sư tử mẹ liếm sư tử con mới sinh, voi mẹ lo cho voi con? Dầu cho thế giới này ở thời kỳ nào đi nữa, thời kỳ mà người ta không biết thánh hiền là gì, không có thánh hiền, hoặc thánh hiền đầy ra đó, thì lúc nào tình cha nghĩa mẹ vẫn tồn tại trên đời này. Lúc nào cha mẹ cũng thương con, lúc nào cũng như vậy hết.Cha mẹ thương con có hai:- Thương bằng ái: Nó-là-của-mình, mình rứt ruột sanh ra nó, làm trâu làm ngựa nuôi nó, nó là một phần xương thịt của mình, nó là bóng dáng, là tác phẩm, là sự tiếp nối, là sự kế thừa, là cái tôi, là phiên bản của mình, cho nên mình thương nó.-Thương bằng tâm từ: đây là cái thương vô điều kiện. Không cần nghĩ đến chuyện nó có hiếu thảo hay không, nó có giống được như mình hay không, mặt mũi nó ra sao. Nó có tật nguyền bệnh hoạn như thế nào đi nữa, không cần thiết. Nó có đáng là phiên bản của mình hay không, không cần thiết. Nó có thương mình hay không, không cần thiết. Miễn là mình không thể cam tâm, nhẫn tâm đành lòng nhìn nó khổ. Cái thương này là cái thương bằng từ bi.Cái thương do cái tâm ái luyến thì loài thú có. Còn cái thương bằng từ bi, thương có lý trí, cái thương đó chỉ có ở con người. Như vậy cha mẹ có cùng lúc hai tấm tình đối với con. Cho nên tôi không thích cái kiểu nói về cha mẹ mà cứ đem cái vụ mang nặng đẻ đau ra. Chuyện đó cũ xì à. Hôm nay tôi phải phân tích như vậy để quý vị thấy cái sự vĩ đại của cha mẹ đối với con của mình.Trong kinh nói, ở thời kỳ không có thánh nhân, không có Tam Bảo, không gặp thánh hiền, mà chỉ cần mình dốc lòng hiếu thảo với song thân. Kính quý hai đấng song đường cũng đủ sanh thiên. Ngược lại, dầu thời đó không có thánh hiền, làm sao mình có cơ hội xúc phạm thánh hiền, nhưng chỉ cần mình bất hiếu, xúc phạm cha mẹ, thì cái tội đó cũng nặng như xúc phạm thánh hiền vậy. Hiếu thảo với cha mẹ thì công đức đủ để sanh thiên, mà bất kính bất hiếu với cha mẹ cũng đủ để sa đọa địa ngục, cho nên cha mẹ là lửa. Cha mẹ có thể sưởi ấm, soi sáng cho con. Khi con không đón nhận tấm lòng cha mẹ, bị đứa con xúc phạm; khi tấm lòng cha mẹ càng sâu rộng, ơn đức cha mẹ càng nhiều, thì tội của đứa con càng nặng. Lửa này gọi là lửa āhuneyya.Còn lửa thánh nhân (dakkhiṇeyya) đã nói ở trên, trong thời Phật pháp tồn tại thì đó là tăng chúng, còn thời không có Phật pháp thì đó là những vị ly dục, những vị có chánh kiến.Chánh kiến là gì? Khi không có Phật pháp thì chánh kiến chỉ có một trường hợp duy nhất thôi, đó là tin lý nhân quả (kammavādī), tin rằng buồn vui ở đời này là do thiện ác đem lại. Họ tin rằng điều lành sẽ đem lại quả báo tốt và điều ác sẽ đem lại quả báo xấu. Vững tin như vậy thì niềm tin đó dẫn đến chánh kiến. Thời không có chư Phật thì chánh kiến chỉ có tới đó thôi (kammavādī).Cho nên, dầu không có thánh hiền ra đời mà mình dốc lòng hiếu thảo với cha mẹ thì đó cũng là công đức lớn. Dầu thời điểm nào đi nữa, hễ xúc phạm bất hiếu với cha mẹ thì coi như tạo đại tội. Đó là lý do vì sao cha mẹ được gọi là lửa. Biết dùng thì được lửa soi sáng, sưởi ấm. Không biết thì cháy bỏng thịt da, chết người, tan nhà nát cửa.Đức Phật dạy rằng, đã là lửa thì mình phải nhắm đến hai khía cạnh tiêu cực và tích cực. Tác dụng nấu nướng, sưởi ấm và soi sáng (tích cực). Tác hại: đốt cháy mình, làm cho mình chết.

7. Lửa củi. (kaṭṭhaggi)Trong nhu cầu cần thiết, lửa cũng là một thứ mình không thể để mất, phải giữ nó. Ngày nay chúng ta không cần phải giữ lửa bằng những khúc củi cháy dở dang, bởi chúng ta đã có hộp quẹt. Thuở còn sống trong hang động, loài người bao giờ cũng giữ một ít than, dầu là than vùi trong tro, để bất cứ lúc nào cũng có thể tạo ra lửa, vì lửa có vai trò ý nghĩa rất lớn trong đời sống chúng sanh. Sử dụng lửa một cách thông minh thì nhờ đó mà chúng ta được sung sướng. Còn sử dụng lửa trong sự thiếu kiểm soát thì chỉ bị họa lớn thôi.Các nhà triết gia, khoa học, sử học trên thế giới nói rằng lịch sử nhân loại được dựng lên rồi đổ sụp xuống hoàn toàn bởi những trận lửa, lửa thiên nhiên, lửa hỏa hoạn do con người tạo ra do cố ý hay bất cẩn.Mỗi ngày, ta đang sống với những ngọn lửa chung quanh và trong lòng mình. Ta hãy cẩn thận sử dụng lửa một cách thông minh đừng để nó đốt cháy mình.

(47) LỬA 2

“Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một tế đàn lớn đang được thiết lập cho Bà-la-môn Uggatasarìra, năm trăm con bò đực được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con nghé đực được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con nghé cái được dắt đến trụ tế đàn, năm trăm con dê được dắt đến trụ tế đàn, và năm trăm con cừu được dắt đến trụ tế đàn. Rồi Bà-la-môn Uggatasarìra đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Uggatasarìra thưa với Thế Tôn:- Tôi được nghe như sau, thưa Tôn giả Gotama: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”….”Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký của Kim Dung có nhắc đến một cái đạo đó là Minh Giáo của Trương Vô Kỵ. Có mối quan hệ giữ Minh Giáo của Trung Quốc với Bái Hỏa Giáo của Ba Tư. Tiểu Siêu – hồng nhan tri kỷ của Trương Vô Kỵ – là thánh nữ của Bái Hỏa Giáo. Hai mươi bốn bí kíp Càn Khôn Đại Na Di được viết trên thánh thư của Bái Hỏa Giáo. Bái Hỏa Giáo là một tôn giáo lâu đời gần như là hàng đầu của thế giới này. Bên Ấn Độ thì có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, có Mahavira giáo chủ đạo Jain. Đó là những vị giáo chủ lâu đời của thế giới. Sau đó có chúa Jésus, thật ra chúa Jésus không phải là giáo chủ. Do người đời sau vì mưu đồ mà người ta dựng Jésus thành một vị giáo chủ như mình thấy hôm nay. Giống như người Tàu người ta đã dựng Lão Tử thành Thái Thượng Lão Quân. Thật ra, sử tính về cuộc đời của chúa Jésus vẫn còn khả nghi. Nếu mọi sự đúng như vậy thì vị trí chúa Jésus được người công giáo hôm nay công nhận cũng giống như chuyện của Lão Tử bên Tàu. Tức là bản thân họ không có ý làm sếp ai, nhưng người đời sau sắp xếp vì ý đồ nào đó. Ví dụ nếu không có 12 thánh tông đồ thì không có tín ngưỡng Cơ Đốc. Cũng giống như bên Tàu không có Trương Đạo Lăng đời Hán thì làm gì Nam Hoa Kinh của Trang Tử, Đạo Đức Kinh của Lão Tử được nâng lên thành Thánh thư của Đạo giáo. Rồi từ hai cuốn đó mà người ta biên soạn thành bốn ngàn cuốn Đạo tạng. Đó là do người đời sau.Bái Hỏa Giáo Ba Tư là một trong những đạo lâu nhất thế giới, Thánh thư của họ là Avesta. Trong đó có nói hai thế lực Ahura và Mazda – thế lực thiện và ác. Thiện biểu tượng cho ánh sáng (của lửa), ác biểu tượng bằng bóng tối. Giáo lý đó cũng hay, như âm dương vậy. Avest nói về điều đó. Vị giáo chủ đầu tiên là Zarathustra (Zoroaster). Tín ngưỡng thờ lửa có lâu lắm rồi, theo trong kinh điển Pāḷi thì nó có từ vô lượng kiếp luân hồi về trước — từ bao nhiêu triệu tỷ vị Phật quá khứ thì người ta đã có tín ngưỡng thờ lửa. Vì sao vậy? Vì lửa có những tính đặc biệt:-Thấy mà không sờ chạm được. Không có vật gì trên đời này ngộ như lửa. Thấy nó, tiếp cận được, cảm được hơi ấm, ánh sáng của nó, nhưng không thể nắm bắt, sờ chạm được. Nó có mà không nó không mà có.-Lửa giúp cho đời sống quá nhiều (ánh sáng, hơi ấm, nấu chín thức ăn)-Sức tàn phá kinh khủng. Một đốm lửa nhỏ có thể thổi bay một khu rừng lớn. Ai dân Úc, dân Cali sẽ rành điều này qua những vụ cháy rừng. Chỉ cần con người không can thiệp là nó cháy suốt.Người ta thờ lửa bởi nó là vật thể quá lạ lùng, có mà không không mà có. Ranh giới giữa có và không rất mơ hồ. Lấy cây quơ ngang cũng không bị vướng, không bị ngăn ngại. Thấy có nhưng không thể sờ nắm, không thể chụp bắt giam nhốt được. Lửa vừa lợi vừa hại mà ranh giới giữa lợi và hại rất mơ hồ. Ranh giới giữa thân thiện và thù địch rất mơ hồ. Đây chính là lý do mà người ta thờ nó. Bởi nó dễ kiếm, kỳ bí, thần diệu. Đồng thời, những người nghĩ ra vụ thờ lửa đó thông minh lắm. Họ muốn mượn lửa làm một thần vật để dựa vào đó tuyên truyền rao giảng những vấn đề đạo đức, triết học, tín ngưỡng và đôi khi họ còn đính kèm vào đó những ý tưởng chính trị nữa. Những tay hoạt đầu tôn giáo hay hoạt đầu chính trị thường mượn cái chiêu đó, giống như mượn Tứ Thư, Ngũ Kinh, Đại Học, Trung Dung, Bách Gia Chư Tử, Mạnh Tử… Các sách kinh thư lễ nhạc của Tàu ngày xưa được cái giới thống trị TQ tận dụng hết ga.

Họ lấy đó làm nền tảng cương lĩnh chính trị để trị quốc trị dân, an bang tế thế. Tôi nói một vòng xa để bà con hiểu rõ bối cảnh mà thấy rằng người nghĩ ra cái đạo thờ Lửa này không phải là u mê mà là khôn bằng trời. Muốn nắm được thiên hạ thì phải giữ cái lòng của thiên hạ. Muốn giữ được lòng họ thì phải gom thiên hạ vào một mối bằng một niềm tin vào chính trị, niềm tin tôn giáo, bằng một lời dụ khị nào đó. Nhưng phải dựng lên được một thần tượng về chính trị, thần tượng về tôn giáo, để cho một rừng thiên hạ quỳ mọp. Nắm được chỗ đó thì mình mới thống nhất thiên hạ, gồm thâu thiên hạ trong tay. Họ khôn lắm. Đó là nói về mặt tiêu cực.

Còn về mặt tích cực, nếu mình nói khơi khơi gì thì thiên hạ không nghe, nhưng nếu có một thần tượng nào đó treo tòn teng, ví dụ như lớp này, khi có một hình ảnh Đức Phật treo trên đó, chúng tôi mới nhân danh người giảng kinh giảng lại lời của Phật xưa thì bà con mới có cớ vào nghe. Bây giờ trước mặt chúng tôi có 130 người, bà con đâu có hưởn vào nghe một người xàm xí. Tôi không có học vị gì hết, còn trong room này người có bằng đại học cả tỷ, vậy sao quý vị lại vào nghe.

Quý vị nghĩ mình muốn tìm hiểu về Phật mà sao đọc sách nản quá, giống như tìm nước ngọt trên biển, nước mênh mông mà uống không được, càng nhìn càng khát nước. Thế là nghe nói ở chỗ nào có nói hươu nói vượn về kinh điển thì nhào tới nghe. Nghe được thì nghe, nghe không được thì đứng dậy tắt máy, lầm bầm rồi đi ngủ.Bái Hỏa Giáo là như vậy. Tôi đánh một vòng để bà con thấy vì sao trong bài kinh này có ông Bà-la-môn thờ lửa là như vậy. Hôm nay ở Iran (và cả Ấn Độ) có đền thờ lửa mà tương truyền rằng đã có 2500 năm. Ngọn lửa ở đó chưa hề tắt bao giờ, đương nhiên đây chỉ là tương truyền thuyết (legend). Mình không biết là có thật hay không hay tắt rồi được đốt lại thì chỉ có trời biết. Nhưng theo truyền thuyết là 2500 năm qua ngọn lửa đó vẫn cháy không ngừng, nó được các thế hệ luân phiên nhau châm dầu thay tim liên tục cho nó đừng tắt. Đó là nhẹ. Còn nặng là có những tay giáo sĩ muốn kiếm chác qua tín ngưỡng thờ lửa đó, giống như những ông thầy Tàu bày ra chuyện giấy vàng mã, họ cũng bày chuyện ra kiếm ăn. Họ nói thờ lửa mà cứ châm dầu (hay bơ động vật) nuôi lửa thì chỉ mới là cấp một thôi. Còn siêu cấp thì phải cúng bái, bởi thần lửa là một cá thể linh thiêng chứ không phải trừu tượng mơ hồ. Mà đã nói là cá thể vô cùng linh thiêng thì ngài cũng nhận sự cúng dường, chứng tri tấm lòng của cái đám tín đồ. Thế là họ bày ra, cúng nhẹ nhẹ là đường sữa, gạo muối; nặng hơn chút là gà vịt, heo bò…

Còn những bữa cúng quy mô hoành tráng của các bậc đế vương thì cắt cổ đồng nam đồng nữ lấy máu rảy vào trong lửa. Ngài mà vừa lòng rồi thì đất nước thái bình thịnh trị, nhân dân an cư lạc nghiệp. Họ tuyên truyền ác liệt như vậy, còn vua thì muốn bao nhiêu mạng lại chẳng có.Mấy ảnh ăn chia như thế nào? Cứ nhân danh vua đi thâu gom. Làng xã nào lại chẳng có trâu bò heo dê. Mấy ảnh gom ngàn con, nộp một mớ giữ một mớ. Nếu bị điều tra thì nói rằng những con thú đó bị mắc bịnh nên giữ lại. Còn khi muốn lấy tiền của người ta thì họ lại nhà bắt con của người ta. Người ta phải nộp tiền chuộc mạng. Người ta không nộp tiền thì bắt đem về để vua giết tế thần. Mấy ông giáo sĩ cũng máu lạnh, cứ thọc dao cắt cổ đồng nam đồng nữ. Thời nào cũng vậy, mình phải có cái đầu tư duy, chứ không là khổ dữ lắm.Trong bài kinh này nói về lễ cúng Lửa của ông Bà-la-môn Uggatasarīra, chỉ là lễ nhẹ, giết những gia súc (bò đực, nghé đực, nghé cái, dê, cừu) thôi, chứ chưa giết con người. Ông Uggatasarīra rất là mặn mà với chuyện đó, nên đem trình lại với Đức Phật. Ông nói cho Ngài biết ông là người thợ lửa, thỉnh thoảng ông cũng làm những buổi tế đàn (mahāyañña), yañña: lễ cúng.

Ông hỏi Ngài nghĩ gì về những chuyện đó. Ông hỏi Ngài có nghe người ta nói về chuyện cúng lửa không.Ngài trả lời có nghe. Rồi Ngài nói với ông thế này:-“Này Bà-la-môn, không nên hỏi Như Lai rằng: “Tôi được nghe như sau, thưa Tôn giả Gotama: “Nhen nhúm ngọn lửa và dựng lên trụ tế đàn có quả lớn, có lợi ích lớn”. Này Bà-la-môn, cần hỏi Như Lai như sau: “Bạch Thế Tôn, con muốn nhen nhúm ngọn lửa, con muốn dựng lên trụ tế đàn. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết dạy cho con, để con được hạnh phúc an lạc lâu dài!”.

Ông Bà-la-môn Uggatasarīra muốn hỏi rằng Ngài có nghe gì về chuyện cúng lửa hay không. Ông muốn đi tìm sự đồng thuận của Ngài. Ông muốn nghe ý kiến của Ngài và dĩ nhiên là ý kiến hợp với ý ổng. Nhưng Ngài nói đừng có hỏi ta có nghe hay không mà hãy hỏi là làm thế nào để cúng lửa một cách thông minh, một cách lợi ích, thì câu hỏi đó hay hơn.Xong rồi Ngài giải thích cho ổng nghe. Ngài nói cúng lửa hay cúng bất cứ thần linh nào, mục đích đầu tiên và duy nhất ai cũng hiểu đó là mong có được sự phù hộ của các đấng bề trên, các đấng siêu hình, để có được tốt đẹp trong đời sống. Nhưng đẹp đâu không thấy, mỗi lễ cúng như vậy ngoài chuyện hao tốn vô ích vô nghĩa về thời gian, tiền bạc, công sức, lại còn là những cái dịp để cho xảy ra cảnh máu đổ thịt rơi, tàn sát sinh linh. Loài nào cũng tham sống sợ chết.

mà mình mưu cầu hạnh phúc, mưu cầu điều tốt đẹp cho mình lại bất kể sinh mạng của loài khác. Ai trên đời này có thể nói rằng trâu bò không biết đau, dê cừu không biết sợ chết? Con thú nào cũng biết đau, cũng sợ chết hết. Vậy mà mình nhân danh chuyện cúng thần để tước đoạt mạng sống của người khác thì có nên không? Trong buổi lễ người ta phải dùng đao dùng kiếm (sattha) để cắt, thọc con gia súc để lấy máu thịt cúng tế. [Chữ ‘sattha’ là vũ khí bén nhọn nói chung, dùng để tấn công người khác. Khác với ‘satthā’: là ông thầy, đạo sư teacher, master)]. Ngài nói trong mỗi buổi lễ như vậy nhìn thấy ai cũng cầm những vũ khí – vật bén nhọn – để hành hạ chúng sanh, ai cũng thấy đó là những món đồ dùng cần thiết cho nghi thức tôn giáo. Nhưng những món vũ khí đó đem phân tích ra chính là vũ khí thân, vũ khí khẩu, vũ khí ý.Ngài nói khi mình sống bằng tâm bất thiện là chính lúc đó mình đang dùng ba thứ vũ khí tham, sân, si qua ba ngả thân khẩu ý để tàn hại chúng sanh khác. Bất cứ khi nào chúng ta dùng thân, khẩu, ý của mình để làm khổ chúng sanh khác đó là lúc chúng ta đang sử dụng vũ khí. Ngài nói cúng bái cái gì chưa thấy mà chuyện đầu tiên là thấy dùng vũ khí bén nhọn để hại loài khác.

Thử hỏi cái tế đàn như vậy có đáng để tổ chức hay không? Và liệu những hiền nhân, bậc trí tuệ trên đời này sẽ nói gì về lễ cúng bất nhân, mọi rợ, dã man phi nhân tính như vậy.Ngài nói chuyện đó là chuyện phản tác dụng. Muốn được vui mà làm toàn chuyện gieo khổ, khổ cho mình và khổ cho người, đó là xuẩn động, thiếu trí, phản tác dụng. Tự mình hại mình hại người, tự lấy đá ghè chân mình mà không biết.Ngài dạy thêm. Ngài nói. Ngọn lửa mà các ngươi thờ lạy là thứ vô tri không đáng thờ lạy. Vì thờ lạy nó mà mình phải dùng thứ lửa độc hại là lửa tham lửa sân lửa si. Lấy những thứ lửa này để cúng một thứ lửa vô ích thì có nên không?Cuối cùng Ngài đúc kết, trong giáo pháp, trong quan điểm, lập trường, nhận thức của thánh nhân thì lửa phải được hiểu theo nghĩa khác. Ngọn lửa mà mình nấu cơm, đốt đèn, có lạy nó ngàn kiếp cũng chẳng được gì. Nếu muốn thờ lạy, thì thờ lạy ba thứ lửa sau đây sẽ được công đức vô lượng, đó là lửa cha mẹ, lửa gia đình, lửa thánh hiền.Tại sao ba thứ lửa này được Ngài nhắc ở đây?

1. Lửa cha mẹ:Dầu không có Phật pháp thì thời nào cũng như thời nào, con cái phải biết kính lễ hiếu thảo với cha mẹ; đó là con đường sanh thiên đã đành, đồng thời đó cũng là một trong những giềng mối quan trọng của xã hội.Thời phong kiến (phong hầu kiến địa), cái thời còn thi cử, khoa bảng, anh giỏi cách mấy mà triều đình điều tra biết anh là đứa con bất hiếu thì coi như rớt. Nếu anh thiếu điểm chút đỉnh mà làng xã chứng minh anh là đứa con chí hiếu thì anh sẽ được cộng thêm điểm – giống như gia đình chính sách, có công cách mạng, nhân thân tốt vậy đó. Họ nói anh là người có nhân thân tốt. Họ lý luận, đứa con có hiếu thì căn bản đứa đó xài được, sống có cội có nguồn, có lòng tri ơn. Người không có lòng tri ơn thì xài không được. Tri ơn ai? Ai tốt với mình cũng phải đều tri ơn hết, nhưng hai người tốt nhất với mình là cha và mẹ mà mình không nhớ ơn, không tri ơn thì mình là đồ vất đi. Cho nên người xưa cho rằng đứa con có hiếu thì tối thiểu cũng là có được cái đạo đức, hễ nó có hiếu thì nó còn có chỗ xài được, có chỗ ‘ký tên’. Đứa có lòng tri ân thì nhân cách không đến nỗi tệ. Đó là nói trên sự. Còn nói trên lý, nếu nó có hiếu, lỡ nó có chuyện gì thì mình có thể nhờ bố mẹ nó thương lượng với nó; cũng có cái cán để nắm. Xã hội, cuộc đời khi cần thương lượng với nó mà không trực tiếp được thì cũng có thể thông qua người đại diện là cha mẹ của nó. Hiếu thảo là điều rất quan trọng trong xã hội xưa. Mà ngay cả trong kinh Phật có nói, dầu thời kỳ không có thánh nhân ra đời, không có Tam bảo, mà mình có lòng hiếu thảo thì vẫn có khả năng sanh thiên. Dầu cha mẹ có tệ cách mấy đi nữa thì 90% cha mẹ đều có lòng thương con cái. Hễ mình hiếu kính cha mẹ là mình biết sử dụng thông minh ngọn lửa cha mẹ. Còn nếu mình bất kính bất hiếu với cha mẹ thì chỉ có con đường sa đọa. Mình xúc phạm thánh nhân mình có bị cái gì thì chưa biết, bởi mình có thấy thánh nhân đâu. Nhưng cha mẹ thương mình như trời biển, một đứa con mà làm cho cha mẹ buồn thì coi như chết.

2. Lửa gia đình: đã nói trong bài kinh trước. Giềng mối gia đạo trong một gia đình mà không giữ nổi, có những hành xử bất xứng với nhau thì sớm muộn gì cũng tan nhà nát cửa. Đó là lý do Phật dạy gia đạo cũng là lửa.

3. Lửa thánh hiền:Những bậc thánh hiền là ánh sáng của thế giới. Tôi không biết mức khả kính dễ thương của Lão Tử, Trang Tử tới đâu. Tôi không biết mức khả kính của ông Gandhi, của bà Teresa tới đâu. Tôi không dám nói họ là thánh hay phàm, họ chỉ mới là hiền nhân thôi mà quí vị thấy thế giới này được họ dắt dẫn như thế nào. Hỏi thiệt quí vị đừng có giận, đừng buồn, quí vị có bao giờ dành thời giờ để đọc danh ngôn quốc tế chưa? Danh ngôn là một loại sách mà tôi đọc bao nhiêu cũng không ngán. F. Dostoevsky nói “Chính cái đẹp đã cứu rỗi thế giới.”

Cái đẹp ở đây là cái đẹp trong nghệ thuật, mỹ thuật và cái đẹp trong tâm linh tư tưởng của nhân loại. Ai là người cung cấp những cái đẹp đó? Chính là những bậc hiền nhân. Tôi chưa đề cập đến thánh nhân. Chỉ mới nói đến hiền nhân thôi. Chính họ đã cứu chuộc thế giới. Họ có những suy nghĩ mà đã làm cho bao nhiêu cuộc đời được cứu rỗi. Bản thân không phải là giáo chủ, không phải là thánh thần, mà chỉ với những câu nói của họ mà họ đã cứu rỗi bao nhiêu mảnh đời, nhờ đó mà biết bao nhiêu người từ bóng tối bước ra ánh sáng, từ sình lầy mà bước lên con đường cái quan thênh thang đi về phía ánh mặt trời. Nhờ đâu? Nhờ những câu nói thông minh của các bậc hiền nhân trong đời. Họ gồm hai hạng:

1. Những hiền nhân có đời sống, có nhân cách hiền nhân.

2. Bình thường họ cũng tào lao nhưng họ thảng hoặc, đôi khi, họ có những suy nghĩ minh triết, suy nghĩ đẹp, đủ để đóng góp vào vườn hoa tâm linh tinh thần của thế giới, họ cũng được gọi là một kiểu hiền nhân đột xuất “temporary wisemen”. Đó là tôi mới nói hiền nhân, chưa nói đến thánh nhân.Thánh nhân là người tự điều phục, kiểm soát được bản thân. Không còn thích những cái ngọt, không còn bất mãn những cái đắng.

Trước mặt họ mình chỉ có một cái cúi đầu, một câu chào là đủ sanh thiên. Nói gì là muỗng cháo, chén cơm củ khoai, củ sắn. Do đó họ chính là lửa. Lửa ở đây nói theo nghĩa tích cực.Còn nói theo nghĩa tiêu cực thì những đối tượng khả kính ấy mà ta buông lời bất kính, xúc xiểm, phạm thượng báng bổ thì tội lớn tày đình.Bữa nay mình học liên tục hai bài kinh về lửa. ông Bà-la-môn cúng lửa tào lao ấy sau khi nghe Đức Phật nói về lửa thì ông lập tức phát nguyện trước mặt Thế Tôn trở thành một người cư sĩ.Nãy giờ tôi dành thời gian hơi nhiều để nói về hiền nhân. Chỉ là hiền nhân trong xã hội mà mình thầy họ đáng kính dường nào, nói chi là những bậc thánh nhân, thỉnh thoảng lại xuất hiện trong trời đất bao la này. Chúng ta nếu có thời gian để suy tư nghiền ngẫm về những bài kinh này thì chắc chắn chúng ta sẽ có những thay đổi lớn. Và tôi đã nói không biết là bao nhiêu lần, thế giới này chính là những gì mà ta nhìn thấy, ta nhận thức với cái não trạng của mình; dựa trên cái nền tảng mà ta đã xây dựng từ kiếp trước lẫn kiếp hiện tại thông qua môi trường sinh trưởng, giáo dục. Và PG lại cung cấp cho ta tư liệu, tài liệu, thông tin, nền tảng để chúng ta có một nhận thức khác về thế giới qua một chiều kích khác, một tầm cao khác, qua một vị thế, một góc nhìn khác.

Đẹp chứ. Và điều đặc biệt của PG là đại kỵ cái nhìn phiến diện, một chiều, cái nhìn lệch lạc mà Ngài gọi là biên kiến. Đức Phật dạy chúng ta nhìn trên nhìn xuống, dưới nhìn lên, trong nhìn ra, ngoài nhìn vào, đó là cái nhìn của người tu Phật, học Phật, tin Phật và hiểu Phật. Ví dụ Ngài có thể nói cho mình về con đường sanh thiên, Ngài nói rành rẽ. Ngài nói cho mình cách xây dựng đời sống cư sĩ an lành ở nhiều nghĩa. Chứ đừng có nói rằng Ngài chỉ biết dạy đạo giải thoát. Sai. Ngài dạy cho mình làm một người chồng tốt, một người vợ tốt, một đứa con tốt, một người cha, một người mẹ, một người bạn tốt, một người thầy một người trò tốt, một công dân tốt, một con người tốt, một thành viên tốt. Ngài dạy cho mình đầy đủ hết, nhưng cuối cùng rốt ráo Ngài dạy rằng, hễ còn dính ở trong cái tốt, cái xấu là còn sinh tử. Hễ còn sinh tử là còn khổ.

Cho nên tốt hơn hết thì cái xấu không nên có là đã đành mà cả cái tốt cũng dẹp luôn. Cái xấu thì dẹp bằng cái tốt, còn cái tốt dẹp bằng cách nào? Dẹp bằng cách là chán nó luôn. Hoặc nói nôm na, ta dẹp cái ác bằng cách chán sợ nó. Qua tới cái tốt chúng ta cũng dẹp bằng sự chán sợ. Đó là sự chán sợ bằng cách nhận thức chín chắn, chứ không phải chán sợ bằng cách không muốn sống thiện nữa để trở về sống ác. Như vậy là không đúng. Chán ác dành cho người yêu cái thiện. Chán thiện không phải dành cho người yêu ác mà là dành cho người không còn sinh tử nữa.

Chán ác vì yêu cái thiện, chán cả cái thiện vì không muốn hiện hữu nữa. “Thiện diệc lãn vi hà huống ác, phú phi sở nguyện khởi ưu bần.” Việc thiện còn làm biếng làm huống chi việc ác, khi giàu không phải là cái để mình ham thì nghèo không phải là cái để mình lo. Tại sao mình lo cái nghèo? Bởi vì mình ham giàu. Tại sao mình ham giàu? Bởi mình sợ cái nghèo.

252 total views, 3 views today

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *