Bảy pháp chân nhân (sappurisadhamma)

Thời gian đọc: 1 minute

1) Tri kỷ (attaññutā),là tự biết rõ về mình hay tự biết bản thân, tức là tự biết khả năng, sở trường, sở đoản của mình: như biết rằng đến mức độ đó tôi có lòng tin, có giới, đa văn, bố thí, trí tuệ, biện tài.

2) Tri bỉ (puggalaparoparaññutā), biết rõ căn cơ cá tính của người khác: biết người này thích hoặc không thích nghe pháp, người này có chú tâm hoặc không chú tâm khi nghe pháp, người này nghe pháp có thọ trì hay không thọ trì.

3) Tri hội (parisaññutā), biết rõ hội chúng để ứng xử, đây là hội chúng sát-đế-lỵ, đây là hội chúng bà-la-môn, đây là hội chúng gia chủ, thương buôn, đây là hội chúng nô lệ, phục dịch;… ta nên ngồi, nên nói, nên im lặng như vậy.

4) Tri độ (mattaññutā), biết độ lượng trong vật dụng, nghĩa là biết tiết độ chừng mực khi thọ nhận và sử dụng y phục, thực phẩm, sàng tọa, dược liệu.

5) Tri thời (kālaññutā), biết thời gian hợp lý, nghĩa là biết đúng thời nào để làm việc nào.

6) Tri nghĩa (atthaññutā) là hiểu rõ về nghĩa lý Phật ngôn đã học: biết rõ mục đích, lợi ích của hành động, lời nói, tư tưởng.

7) Tri Pháp (dhammaññutā), là biết rành về Phật ngôn như khế kinh, ứng tụng, ký thuyết, phúng tụng, bổn sanh, như thị thuyết, phương quảng, vị tằng hữu: cũng có nghĩa là biết rõ pháp thiện, pháp bất thiện, nhân tốt, nhân xấu.

Tóm lại : Vị tỳ khưu thành tựu bảy pháp này, là vị đáng được cung kính, cúng dường, là phước điền vô thượng ở đời.

Tham khảo trong Kinh Trường bộ và Tăng chi bộ kinh

97 total views, 3 views today

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *