29 Tháng Hai, 2020

Phiếu ăn cơm thời đức Phật – Sư Giác Nguyên

Thời gian đọc: 9 Phút

“Trong các vị đệ tử của ta… đầu tiên nhận phiếu ăn cơm, tối thắng là Kunda Dhāna.” (Kinh Tăng Chi, Phẩm Người Tối Thắng)

Kuṇḍadhāna là người gắn liền với sự kiện. Chư Phật nào cũng có người đệ tử như vậy hết

‘Salāka’: ‘thẻ rút thăm’. Ví dụ như tôi có một món đồ muốn đem hiến tặng cho đám đông. Đồ chỉ có một mà đám đông có mười, để công bằng thì phải làm mười cái thẻ, trong đó một thẻ có và 9 thẻ không. Người nào rút trúng thẻ có thì được nhận món đồ đó. Số lượng chư tăng trong chùa có khi là 5 vị, 10 vị, vài chục hoặc vài trăm vị, còn thời Đức Phật thì có khi là mấy ngàn vị; trong chùa có những lễ phẩm người ta cúng dường, hoặc có bữa người ta mời đi trai tăng số lượng có hạn mà chùa đông quá thì để công bằng nhất là phải rút thăm.

Ông Cấp Cô Độc có bốn đứa con gồm 3 gái, 1 trai. Người con gái đầu là Mahā Subhaddā (đại hiền nữ), người con gái kế là Cūḷa Subhaddā (tiểu hiền nữ). ‘Subhaddā’ nghĩa là ‘hiền nữ’. Người con gái thứ ba là Sumanā Subhaddā (‘sumanā’ là ‘thiện chí’, ‘vui vẻ’ và cũng có nghĩa là hoa lài, Jasmine), trong trường hợp này có cả hai nghĩa. Ông có người con trai da đen thui tên là Kāla Subhaddā. Người con trai này không tin Phật pháp nên ông phải dùng tiền để dụ: “Mỗi lần con đi nghe pháp hay bát quan cha cho con ngàn đồng vàng.” Vài lần như vậy thì đứa con trai đắc Tu-đà-hoàn luôn. Mahā Subhaddā và Cūḷa Subhaddā đều đắc Tu-đà-hoàn hết nhưng lại xui là họ lấy nhằm ông chồng ‘trời ơi’, tà kiến. Đặc biệt là cô Mahā Subhaddā lấy người chồng ở xứ Ugga tà kiến. Lấy chồng một thời gian nhớ Phật nhớ chư tăng quá đi, cổ nói với chồng: “Hồi đó đến giờ anh mời mấy thầy ngoại đạo của anh tới, bữa nay tới phiên em, em mời sư phụ của em đến em cúng dường.” Chồng gật đầu xong là cô cầm bó hoa lài thơm phức lên lầu chú nguyện: “Từ xứ Ugga xa xôi ngàn trùng, con xin Thế Tôn nhận lấy số hoa này thay cho lời thỉnh của con ngày mai đến thọ trai.” Quí vị tưởng tượng, khi Thế Tôn còn tại thế, giữa thầy trò có mối liên lạc xuất sắc như vậy. Sau khi nguyện như vậy cô đưa hai tay thảy chuỗi hoa lài lên hư không. Chuỗi hoa biến mất. Lúc đó Phật đang thuyết giảng ở chùa, thấy chuỗi hoa đó xuất hiện, Ngài biết. Sáng hôm sau Ngài nói với ngài Ānanda: “Bữa nay đi rất là xa, trai tăng ở nhà của người ta, cho nên phải toàn là những vị La-Hán lục thông.”Ngài Ānanda vâng lời đi ra cầm mấy cái thẻ và nói vị nào là La-Hán có lục thông thì mới cầm lấy, vì bữa nay chỗ này hơi đặc biệt, xa lắm, phải đi bằng thần thông.

Trở lại câu chuyện của vị Kuṇḍadhāna. Sau nhiều kiếp sanh tử, gặp Phật quá khứ ngài cũng nguyện được thế này thế kia, nhưng đến đời Đức Phật Thích Ca, ngài sinh vào gia đình Bà-la-môn, và được đặt tên là Dhanatissa. Cuộc đời ngài gắn liền với chuyện rất kỳ bí. Ở ngoài đời thì ok không có gì đặc biệt, nhưng kể từ lúc ngài đi xuất gia thì có chuyện lạ là hễ ngài đi đâu là sau lưng ngài luôn luôn thấp thoáng một cô gái ăn mặc sửa soạn nhìn bắt mắt lắm. Ở đám đông thì không sao nhưng hễ chỗ nào có một mình ngài thì thấp thoáng có phụ nữ sau lưng. Quá kỳ đi, riết rồi ngài đi bát là người ta thấy có một cô đi sau lưng ngài. Mới đầu người ta thấy kỳ, sau đó cũng quen mắt vì ngài không có làm cái gì bậy bạ, chỉ có con gái đi sau lưng thôi. Vì vậy khi ngài đi bát thì có nhiều người có ý châm chọc, họ múc cho ngài hai vá cơm, hay cho hai trái chuối rồi dặn “cái này của ngài, cái này của cổ.” Ngài khổ tâm, bực mình lắm, còn mấy ông sư trẻ trong chùa nói ngài là vô liêm sĩ, bởi vì họ nghĩ sao ông sư mà đi đâu cũng giấu phụ nữ. ‘Kuṇḍo’: ‘bỉ ổi’, ‘vô liêm sĩ’, nghe giống như chữ ‘côn đồ’ của mình. Từ đó người ta không kêu ngài là Dhanatissa nữa mà kêu ngài là Kuṇḍadhāna nghĩa là “Dhāna bỉ ổi”. Người ta thấy ngài đi đâu cũng có phụ nữ sau lưng mà hỏi thì ngài chối. Đặc biệt là trong chú giải nói ngài không thấy mà người ta thấy. (Mai mốt quí vị có thấy cô nào đi sau lưng mấy sư thì coi chừng là cái nghiệp chứ không phải ông sư đó xấu đâu). Vua Pasenadi lấy làm khó chịu, vua nghĩ, ngày nào mình cũng đi chùa lễ Phật, kính Phật trọng tăng mà ông sư như vậy làm sao chịu nổi. Cuối cùng vua nhất định đích thân mình điều tra. Vua đi hỏi cốc của ngài ở đâu, chư tăng chỉ cho vua. Từ xa, vua đã thấy có cô gái lượn lờ rồi, khi vua đi tới bước vô phòng thì đúng là phòng ông sư, rất đơn giản, chỉ có chỗ nằm và chỗ để bình bát và không thấy cô nào. Vua bước ra thì thấy cô này. Vua biết đây là vị Bồ tát và chuyện này đúng là cái nghiệp. Vua hỏi ngài: “Từ xưa đến giờ trẫm nghe tiếng về ngài, và trẫm gặp mặt ngài trẫm chưa bao giờ chào hỏi đảnh lễ, bữa nay là lần đầu tiên trẫm đảnh lễ ngài, trẫm xin hỏi ngài, ngài biết đó là cái nghiệp xấu của ngài không? Chắc chắn là ngài gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống vật chất đúng không? Trẫm mà không ưa ngài thì người khác làm sao ưa nổi. Thôi thì từ nay về sau nếu như ngài có khó khăn gì về vật chất thì cho trẫm biết.”

Lúc đó lại xảy ra chuyện này, những ông sư trẻ cứ chọc ngài là ‘Kuṇḍo, Kuṇḍo’. Bữa đó ngài chịu không nổi, ngài mới trả lời thế này: “Tôi không có làm gì bỉ ổi hết mà sư cứ chọc tôi, sư mới đúng là người bỉ ổi.” Hai bên lời qua tiếng lại đến tai Đức Phật. Đức Phật gọi ngài lên và nói: “Đừng có giận người ta. Bởi vì bây giờ ngươi đang chịu quả xấu của đời trước. Đừng tiếp tục nói lời ác với người ta, người ta đang gieo là chuyện của người ta, mình đang gặt quả cũ là chuyện của mình.” Ngài giảng xong thì vị này về ráng tu hành và đắc La-Hán. Kể từ lúc đắc La-Hán xong thì cô gái biến mất luôn. Lúc ngài đắc thì không ai biết, trong mắt mọi người ngài vẫn tiếp tục là ông sư bỉ ổi.

Ngay cái bữa Mahā Subhaddā thảy vòng hoa để thỉnh Phật, ngài Ānanda vô thông báo ngày mai La-Hán lục thông mới được đi trai tăng với Thế Tôn, lúc đó ngài Ānanda vẫn không biết vị Kuṇḍadhāna này bữa nay đã ok rồi mà vẫn nghĩ vị này tiếp tục là “bỉ ổi”. Và vị này nói: “Cho tôi xin một thẻ ngày mai tôi cũng đi.” Ngài Ānanda ngạc nhiên: “Trời đất ơi, Sư nghĩ rằng Sư có thể đi chung với các vị La-Hán lục thông hay sao?” Ngài Kuṇḍadhāna trả lời: “Tôi lấy được”. Ngài Ānanda vào thưa với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, Sư Kuṇḍadhāna muốn ngày mai đi.” Đức Phật nói: “Đúng, hãy để cho Kuṇḍadhāna đi cùng với chúng ta.” Lúc đó ngài Ānanda rất ngạc nhiên. Đức Phật nói: “Hôm nay Kuṇḍadhāna không còn như ngày nào nữa. Con trai Như Lai hôm nay đã là một người khác rồi.”

Thế là hôm sau, đoàn 500 vị La-Hán đi trai tăng nơi nhà bà Mahā Subhaddā có cả ngài Kuṇḍadhāna. Sau sự kiện đó Đức Phật xác nhận rằng trong các vị đệ tử của ta, Kuṇḍadhāna là vị đầu tiên nhận thẻ ăn. Vì trước đó không có chuyện này. Từ chuyện 500 vị La-Hán này, đây là lần đầu tiên trong giáo hội xài thẻ và ngài Kuṇḍadhāna là người đầu tiên chưa đợi người ta đưa mà đã đề nghị. Ngài đề nghị không phải vì tham muốn đi ăn mà ngài muốn xác chứng cho mọi người biết “Mọi sự đã là quá khứ, đừng gieo nghiệp xấu khi nhìn về tôi nữa.” Chính ngài là vị tỳ kheo đầu tiên cầm thẻ (phiếu) tài lộc của chư tăng. Trong kinh kể ngài đã tạo nghiệp gì mà ngài bị như vậy:

Vào đời Phật Ca Diếp, chư tỳ kheo thời này cứ mỗi nửa tháng là phải có một ngày làm lễ Bố tát (phát lồ), trình với chư tăng “trong nửa tháng qua tôi đã bị lỗi gì tôi xin sám hối, nếu phạm lỗi mà không thấy thì xin chư tăng nhắc cho tôi biết.” Sau khi chư tăng sám hối lỗi mình đã phạm trong nửa tháng qua thì tất cả đều ngồi yên lại để nghe một vị tỳ kheo tụng giới. Tụng giới nghĩa là tụng 227 điều giới Phật cấm chế tỳ kheo. Buổi họp mặt này được gọi là Bố tát. Trong kinh nói chư Phật nào sống lâu thì 6 năm làm một lần (chẳng hạn như Phật Tỳ-bà-thi); Phật Ca Diếp thì 6 tháng làm một lần, Phật Thích Ca Mâu Ni sanh ra đời trong lúc chúng sanh tuổi thọ ít nên hai tuần (nửa tháng) làm một lần.

Đời Phật Ca Diếp có hai vị tỳ kheo thân nhau lắm, như Bá Nha với Tử Kỳ, như Quản Trọng với Bảo Thúc Nha. Bữa đó hai vị đi qua ngang cánh rừng, trong rừng có một thọ thần thấy hai vị tỳ kheo này thân quá nên nghĩ làm sao phá cho họ gây nhau cho vui. Trong hai vị có một vị đang đi tự nhiên nghe muốn đi ‘toilet’ nên nói với vị kia: “Sư huynh chờ một chút, đệ ghé đây một chút rồi ra liền.” Sư huynh đứng chờ, sư đệ vào trong bụi xong xuôi rồi đi ra. Thọ thần muốn phá chơi, thừa lúc sư đệ từ trong bụi đi ra thì thọ thần hóa hiện ra thành một cô gái áo quần xốc xếch, đưa tay chỉnh trang sửa tóc lại như thể mới vừa qua một cuộc mây mưa. Sư huynh nhìn thấy cảnh đó, quí vị tưởng tượng đi, rừng hoang mà một ông sư trong bụi bước ra mà có một cô phía sau vừa đi vừa kéo khóa, cài nút thì nên nghĩ như thế nào. Thế là sư huynh bất mãn: “Đủ rồi, kể từ bây giờ hai huynh đệ mình không đi chung đường nữa. Kiếp này, bữa nay là lần chót không thấy mặt nhau nữa.” Và suốt 60 năm trời như vậy. Thời đó chúng sanh sống lâu lắm, cứ 6 tháng thì tụng phát lồ một lần, mỗi lần sư huynh gặp sư đệ bước vào làm lễ thì sư huynh bước ra, “Tôi không làm lễ với một ông sư không thanh tịnh”. Suốt nhiều năm như vậy, người sư đệ đau khổ, đau hơn Thị Kính nữa. Ông hoàn toàn không biết gì hết, không biết tại sao sư huynh nghi mình như vậy, còn ông sư huynh thì thấy rõ ràng có người con gái chỉnh trang áo quần, sửa trâm cài tóc mà bây giờ chối đây đẩy, đúng là vô liêm sỉ, vô tàm, vô úy, nên dứt khoát không muốn nhìn mặt.

Nói về thọ thần, sau nhiều năm ‘đã’ quá rồi, bữa đó ông nghĩ thôi bữa nay mình phải kết thúc kẻo tội nghiệp quá. Ông cũng áy náy ray rứt khi thấy sư đệ bước vô hội chúng là sư huynh bước ra ngoài, vừa đi vừa nói không thể làm lễ chung với tỳ kheo như vậy. Thọ thần lúc này biến ra một ông cư sĩ rất là quắc thước, có uy tín trong chùa, đến thưa với người sư huynh: “Thưa sư, cho con nói chuyện một lúc, mấy chục năm qua sư hiểu lầm người sư đệ, nhưng sư ấy như pha lê, thanh tịnh trong sáng. Chuyện mấy chục năm trước ngài thấy trong cánh rừng đó là do con giỡn, con thấy hai vị khắng khít nhau nên con phá xem rã ra như thế nào, mấy chục năm qua, giờ con chịu không nổi nên con xin sám hối. Nói xong thọ thần rùng mình hiện ra là thọ thần. Chuyện mấy mươi năm trước ngài thấy là do con dàn dựng.”

Trò đùa tào lao đó đã gây ra đại họa cho bậc chân tu nên vị thọ thần này chết rồi thì bị đọa địa ngục. Và từ đó về sau cứ sanh làm người thì lãnh tai bay vạ gởi, liên tục đời đời sanh ra là bị hàm oan. “Sace pana kālena kālaṃ manussattaṃ āgacchati, aññena yena kenaci kato doso tasseva upari patati.” (Từ đó về sau, khi sanh lên làm người, ai làm lầm lỗi gì không cần biết mọi sự hiểu lầm đều trút lên ông này). Bị hàm oan liên tục và liên tục, suốt ngàn kiếp mang ra đều mang họ Thị (Kính). Đến kiếp cuối cùng đắc La-Hán, mà cũng gánh quả đó. Vì vậy, nhiều khi mình giỡn phải cẩn thận. Ngày xưa tôi ở VN, trong một đêm đầu đà ở chùa Giồng ông Tố, Cát Lái, mỗi ông sư một phòng, không biết ai nghịch ngợm lấy đôi guốc nữ để trước phòng ông sư mà phòng đó đang đóng cửa, trước phòng lại có đôi dép của ổng. Sau này thì mình mới biết là cái phòng kế bên mở toang mấy cô trong đó đi xếp giấy làm việc gì đó để chuẩn bị cho đêm đầu đà, rồi ai nghịch hay sơ ý không biết, đá đôi guốc qua trước cái phòng đang đóng cửa. Có cô Bảy, giờ cổ mất rồi, cổ lên thăm sư trưởng, đi ngang qua thấy đôi dép đôi guốc đó cổ khó chịu quá. Cô thưa với sư trưởng: “Sư ơi, sư nói làm sao chứ vị nào trong đó làm ơn mở cửa ra, cửa đóng mà để dép nữ như vậy, bữa nay đầu đà người ta tới đông quá thì kẹt.” Sư trưởng hết hồn, kêu mấy sư khác tới kêu cửa, thì ra sư kia đang ở một mình. Ai ác làm sao mà đá đôi guốc từ phòng số 5 sang phòng số 7 rồi cứ để như cố ý phá vậy. Vô ý vô tình thì thôi, nhưng ông sư kia nói: “Nếu con có ý gì thì con giấu chứ mắc gì để bên ngoài cho người ta chửi con.” Mỗi lần tôi kể tích này thì tôi lại nhớ chuyện đó. Ông sư ấy bây giờ nghe đâu cũng chết rồi. Nhiều khi mình giỡn chút xíu mà để di họa di hoạn cho muôn đời. Đọc chuyện đời của vị này thấy ớn, giỡn cái gì cũng đừng giỡn ngu là hại người hại mình.

Sư Giác Nguyên (giảng) – Nguồn Anna Dao

103 total views, 3 views today

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *